K24SQHQ                                                                   Home   K24SQHQ   Mục đích   » More
Kỷ yếu   ĐH30   Hình ảnh   Danh sách   Văn nghệ   Tin tức   Thân hữu                                               

16h:21' - 6/9/2008

Vị thuốc từ sakê

Cây sakê có rất nhiều công dụng trị bệnh. Rễ, vỏ, nhựa, lá của cây này đều có tác dụng tốt đối với một số bệnh về chuyển hóa, còn quả thì có thể làm ra các món ăn ngon, lạ miệng và bổ dưỡng.Rễ sakê có tính làm dịu nên được dùng để trị ho, lợi tiểu, tiêu viêm bệnh hen, viêm da, đau răng và chữa các chứng rối loạn dạ dày. Nhờ tính sát trùng cao mà vỏ cây sakê có thể dùng cho bệnh ghẻ, ngứa, còn nhựa cây kết hợp với một số vị thuốc sẽ cầm được tiêu chảy. Lá sakê có tác dụng trị bệnh nhiều nhất.

 

Cây sakê có rất nhiều công dụng trị bệnh

Do tính năng làm mát, kích thích sự lọc của gan, thận nên uống lá sakê tươi sẽ hỗ trợ điều trị bệnh sỏi thận, tiểu đường tuýp 2 và bệnh viêm gan. Ngoài ra, loại lá này còn có công dụng giảm đau hữu hiệu đối với người mắc bệnh gút. Lá sakê vàng mới rụng sắc lên uống có thể trị được bệnh cao huyết áp.

Cây sakê có rất nhiều công dụng trị bệnh. Rễ, vỏ, nhựa, lá của cây này đều có tác dụng tốt đối với một số bệnh về chuyển hóa, còn quả thì có thể làm ra các món ăn ngon, lạ miệng và bổ dưỡng.

Theo bác sĩ Hồ Ngọc Hồng, Trưởng khoa Nội 2, Viện Y dược học dân tộc TP HCM, trái sakê có thành phần bột đường (25 gam trên 100 gam) cao hơn khoai tây và mỗi một lạng quả sakê cung cấp 110 kcal nên quả Sakê có thể chế biến thành nhiều món ăn bổ dưỡng như món: sakê tẩm bột chiên (có vị béo bùi, chấm với đường, thích hợp làm món tráng miệng trong các tiệc trà), sakê càri gà, chè sakê…

(Nguồn Tintuconline)

 

Sakê thuộc họ dâu tằm( Moraceae) tên khoa học là: Artocarpus altilis, được cho là có nguồn gốc từ vùng Tân Guinea, phân bố rộng rãi ở khu vực Thái Bình Dương đến Hawaii, đã có thời gian được coi là cây lương thực quý, được các nhà thám hiểm và thương buôn người Tây Ban Nha, Anh, Pháp coi trọng, vận chuyển và buôn bán đến các vùng thuộc địa của họ, chủ yếu thường từ philippines chuyển đến Mexico và Trung Mỹ, Jamaica....hiện nay sakê vẫn cập cảng Hoa kỳ, Canada và Châu Âu từ Caribean để cung cấp cho nhu cầu của một số các sắc tộc thiểu số.
Sakê đã được người Pháp đưa vào Việt
Nam từ Indonesia, và được trồng tại Nam Việt Nam. Cây không sống được trong vùng khí hậu Bắc Việt Nam.
Theo kinh nghiệm dân gian lá sakê có vị mát, giải nhiệt, nhuận tràng, kháng sinh..........
Theo khoa học:
    Quả:
Ðặc tính dinh dưỡng:
100 gram phần ăn được chứa:
Quả xanh Quả chín đã nấu
- Calories : 105-109
- Chất đạm : 1.3-2.24 g, 1.34 g
- Chất béo : 0.1-0.86 g, 0.31g
- Chất carbohydrate : 21.5-29.49 g, 27.82 g
- Chất sơ : 1.08-2.1 g, 1.5 g
- Calcium : 18-32 mg, 22 mg
- Phosphorus : 52-88 mg, 45 mg
- Sắt : 0.61-2.4 mg
- Kẽm : 0.120 mg
- Manganese : 0.060 mg
- Vitamin A : 26-40 IU
- Thiamine : 0.1-0.14 mg
- Riboflavine : 0.05-0.08 mg
- Niacin : 0.7-1.5 mg
- Pantothenic acid : 0.457 mg
- Vitamin C : 17-35 mg


Thành phần dinh dưỡng của 100 gram hạt sa kê: Hạt tươi, Hạt rang chín
- Chất đạm : 5.25-13.3 g, 7.72 g
- Chất béo : 2.59-5.59 g, 3.30 g
- Carbohydrates : 30.83-44.03 g, 41.61 g
- Chất xơ : 1.34-2.14 g, 1.67 g
- Calcium : 0.11 mg-40.0 mg
- Phosphorus : 0.35 mg-178 mg
- Sắt : 3.78 mg, 2.66 mg
- Thiamine : 0.25 mg, 0.32 mg
- Riboflavine : 0.10 mg, 0.10 mg
- Niacin: 3.54 mg, 2.94 mg
- Thành phần các Amino acid trong chất đạm của sakê tương đối khá cân bằng: trong số 18 amino acid, lượng cao nhất (trong 100 gram quả) là Aspartic acid, Glutamic acid, Phenylalanine,Leucine..
Thành phần hóa học:
Ngoài thành phần dinh duỡng của quả kể trên, các bộ phận khác của cây sakê còn chứa:
   Hoa: Hoa sakê có chứa một số hoạt chất loại Chalcones có khả năng chống bướu ung thư, ức chế được tế bào ung thư loại sarcoma; hợp chất loại geranyl-tetrahyđrochalcone (chống được dị ứng).
   Lá: Lá có chứa 5 hợp chất loại geranyl dihyđrochalcone, và 4 loại geranyl flavonoids có hoạt tính chống các tế bào ung thư nơi người loại SPC-A-1, SW 480,SMMC-7721 (Phytochemistry Số 68-2007); Quercetin, Camphorol
   Vỏ thân: có các hợp chất loại phenolic: Artenolol A,B,C, D và E; các prenylflavon: Artonin E và F; Cycloartobiloxanthones.
Ðọt non: có các flavonoids, các hợp chất dihyđrochalcone, cycloaltilisin 6, và 7 (các hợp chất này có hoạt tính ức chế men Cathepsin K (Journal of Natural Products Số 65-2002))
   Quả: có sterol loại cyclopropane: Cycloartenol; Alpha-amirin
Toàn cây: còn có 2 phân hóa tố Papayotin và Artocarpine
Các nghiên cứu khoa học về sakê:
Nghiên cứu tại Ấn Độ ghi nhận dịch chiết bằng alcohol 50% từ lá sakê có hoạt tính lợi tiểu rõ rệt khi thử trên chuột với liều 20 mg/kg, tuy nhiên độc tính được ghi nhận là LD50= 80 mg/kg

 

Tác dụng trị bệnh của cây sakê

sỨc khỎe, news

Sự kỳ diệu của lá sakê
TN 11:36:00, 06/11/2006
Khánh Vy

Sakê còn có tên gọi là "cây bánh mì", tên khoa học là Artocarpus altilis, thuộc họ dâu tằm. Sa kê được trồng nhiều ở
Malaysia và các đảo ở Thái Bình Dương, trong nước được trồng nhiều ở phía Nam.


Bộ phận có thể dùng trong y học gồm, rễ, lá, vỏ và nhựa cây. Theo Đông y, rễ sa kê có tính làm dịu, trị ho; vỏ có tác dụng sát trùng; lá có công dụng tiêu viêm, tiêu độc, lợi tiểu.

Ở một số nước, rễ sakê dùng trị bệnh hen và các chứng rối loạn dạ dày, đau răng, bệnh về da; vỏ cây sa kê dùng trị ghẻ; nhựa cây được dùng pha loãng trị tiêu chảy và lỵ; còn lá sa kê tươi thì được dùng với lá đu đủ tươi, giã với vôi để đắp trị nhọt. Trong nước, dân gian dùng lá sa kê chữa phù thủng, viêm gan vàng da bằng cách nấu lá tươi để uống. Ngoài ra, theo lương y Nguyễn Công Đức (giảng viên khoa Y học cổ truyền, ĐH Y Dược, TP.HCM) lá sakê phối hợp với một số vị thuốc khác sẽ trị được một số bệnh sau:

1. Trị bệnh gút (thống phong) và sỏi thận :

Dùng lá sakê tươi (2 lá - độ 100 gr), 100 gr dưa leo và 50 gr cỏ xước khô, để nấu nước uống trong ngày.

2. Trị tiểu đường týp 2 :

Lấy 2 lá sakê tươi (100 gr), 100 gr trái đậu bắp tươi và 50 gr lá ổi non. Tất cả để chung nấu nước để uống trong ngày.

3. Chữa viêm gan vàng da :

Dùng 100 gr lá sakê tươi, 50 gr diệp hạ châu (chó đẻ) tươi, 50 gr củ móp gai tươi và 20 - 50 gr cỏ mực khô. Tất cả để chung, nấu nước để uống trong ngày.

4. Trị chứng huyết áp cao dao động :

Dùng 2 lá sakê vàng vừa mới rụng, 50 gr rau ngót tươi và 20 gr lá chè xanh tươi. Để chung nấu nước uống trong ngày.

Copyright@ 2006 k24sqhq.org. All rights reserved